CS1: 39/23 Bùi Văn Ba, P. Tân Thuận Đông, Q.7 | CS2: 742/10 Nguyễn Kiệm, P. 4, Q. Phú Nhuận

TIỂU SỬ CÔ ĐÀM LÊ ĐỨC, NGƯỜI SÁNG LẬP TRƯỜNG THCS và THPT ĐỨC TRÍ

Cô Đàm Lê Đức sinh ngày 09 tháng 01 năm 1932. Quê chính: Làng Ông Mặc, xã Đông Ngàn, huyện Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh (nay là Làng Me, Thị xã Từ Sơn , tỉnh Bắc Ninh).

Cô là con cháu dòng Khoa bản, hậu duệ của Danh thần đời vua Lê Thánh Tông – Đàm Thận Huy (sinh năm 1463) và được phong Phúc thần của nhiều địa phương ở Quảng Yên.

Đời cụ nội của cô (Cụ Đàm Quang Mỹ) đã dời gia đình về Làng La Khê, tổng Hà Bắc, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên, nay là Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Sau này Quảng Yên đã trở thành quê hương thứ hai của Cô.

Cha của cô là cụ Đàm Quang Vinh ( sinh năm 1897), từng làm Tri Phủ Thất Khê, Bố Chánh Lạng Sơn, Tuần Phủ Lào Cai… luôn luôn là một vị quan thanh liêm và thương dân. Mẹ là cụ Lê Thị Phúc- Con gái một nhà thầu Xây dựng có tiếng ở Bắc Kỳ ( cụ Lê Bá Khai). Cụ là một phụ nữ nhân hậu và rất thông minh, tháo vát.

Khi còn nhỏ, gia đình cô sống ở Hà Nội - Phố Hàng Dầu. Cô học tiểu học năm đầu tiên ở Hà nội.

Năm 1940, mẹ cô đưa các con về Quảng Yên sinh sống để tránh máy bay Nhật ném bom.

Từ năm 1940 - 1943: Cô học ở trường tiểu học Quảng Yên.

Từ năm 1943-1944: Cô học THCS năm đầu tiên tại Đồng Khánh- một trường nội trú cho nữ sinh tại tỉnh Hưng Yên.

Năm học 1944-1945: Do các biến động xã hội (nạn đói năm 1945, Nhật Pháp đánh nhau), cha cô từ quan về nhà, cô phải nghỉ học vì gia đình không còn điều kiện cho các con ăn học. Lúc này cô vừa 13 tuổi.

Từ năm 1945-1949 (5 năm): Cô phụ giúp gia đình kiếm sống bằng đủ mọi nghề:

+ Trồng dâu, nuôi tằm, xe tơ, dệt vải và bán cho các thương lái.

+ Nhà có đất ruộng nên cô và anh trai làm thêm công việc nhà nông để gia đình sinh sống trong lúc xã hội đói kém, ngặt nghèo. Còn nhỏ và là con gái, nhưng cô cũng học cách cày ruộng, cấy lúa…

+ Làm nghề hang xáo, xay xát lúa gạo bán cho các nơi làm bánh phở, làm bún và lấy cám nuôi heo, gia cầm…

+ Phụ cha mẹ tráng bánh cuốn bán ngoài chợ.

Do tính ham học và trong nhà lại có sẵn sách chữ Nho, đêm đêm cô thường mày mò học chữ Nho vì học tập là một nhu cầu không thể thiếu được của cô Đức.

Làm bất cứ việc gì, cô cũng đều chăm chỉ và luôn tìm cách để làm thế nào cho tốt nhất. Ngoài ra, cô luôn nung nấu trong lòng quyết tâm quay trở lại với con đường học tập vì cô biết chỉ có học tập mới gom góp được nhiều kiến thức, mới mở mang được hiểu biết và mới có thể khắc phục được hoàn cảnh khó khăn của gia đình, đồng thời thực hiện được ước mơ của bản thân là trở thành một cô giáo. Cô đã tự hoạch định một kế hoạch cho tương lai của mình là 25 tuổi sẽ đi học trở lại. Cô tâm sự với chị gái: “Em muốn làm nghể may để phụ giúp gia đình và kiếm tiền đi học tiếp!”. Cô đã chọn nghề may vì học phí không quá cao và sau 6 tháng là có thể hành nghề để kiếm được tiền thực hiện ước mơ.

Cô học may tại Trường Quang Minh – một trường dạy may nổi tiếng tại Hà nội, học may cả Việt phục (áo dài, áo cánh, quần ta...) lẫn Tây phục (Quần tây, sơ-mi, veston). Chị cô làm dâu một gia đình khá giả nên đã giúp cho cô tiền học phí để theo học hai khóa học này. Ở trường Quang Minh, cô là một học sinh ham học hỏi. Nhờ vậy mà sau này cô trở thành một thợ may giỏi.

Từ năm 1950-1954 (5 năm): 18 tuổi, cô về Quảng Yên, mở tiệm may Liên Tĩnh (Có nghĩa là Hoa Sen trong giếng) tại số 39 phố Lê Lợi, Quảng Yên. Ngày may đồ cho khách, đêm lại tự học thêm.

Sau năm năm lao động giúp đỡ gia đình và dành dụm vốn liếng, cô xin phép cha mẹ cho đóng cửa tiệm may và đi thi đại học vì nếu không thi trong năm đó thì cô sẽ vượt quá độ tuổi được đi thi. Được cha mẹ cho phép, cô đóng cửa tiệm may và tập trung vào học tập. Mong muốn ban đầu của cô là học để thi lấy bằng Tú tài (Bằng tốt nghiệp cấp THPT ngày nay), nhưng ô chỉ mới học tới lớp 5 nên nếu muốn thi Tú tài thì còn phải học thêm chương trình của Lớp 6,7,8,9,10. Cô đã nhờ em trai đang học trường Y kèm thêm cho môn này. Cô đề nghị:

- Em có thể dạy cho chị chương trình Toán của mỗi năm học trong 1 tháng được không? Trong 5 tháng, chị muốn học xong chương trình Toán cấp II và cấp III?

Em cô trả lời: “Nếu chị quyết tâm thì em dạy được!”. Cô đã học tập chăm chỉ ròng rã 5 tháng trời để hoàn thành chương trình phổ thông môn toán học. Rất may là sau đó, nhờ người quen giới thiệu, cô xin vào được lớp 10 (Lớp cuối cấp của THPT ở miền Bắc trước kia) và đã có cơ hội để thi vào đại học. Nhưng ngoài môn Toán, các môn Lý và Hóa hầu như cô không biết gì, thế là lại tập trung vào để học các môn học này. Học hành đến kiệt sức, nhiều lúc cô đã ngất xỉu trên lớp giữa giờ học, nhưng vẫn kiên quyết theo đuổi việc học đến cùng và đã tốt nghiệp Tú Tài.

Cô lại nắm bắt tiếp được một cơ hội lớn. Năm 1956, Trường đại học Tổng hợp được thành lập, cô đăng ký thi tiếp vào Khoa Toán - Lý của trường Tổng hợp và trở thành sinh viên nữ duy nhất của lớp Toán Tổng hợp đầu tiên tại miền Bắc.

Tháng 7/1959, cô tốt nghiệp đại học Tổng hợp và được cử về làm giáo viên dạy Toán tại trường cấp III Ngô Quyền, Hải Phòng. Tại đây cô vừa là giáo viên dạy Toán giỏi vừa là giáo viên chủ nhiệm tận tụy và được học sinh tin yêu vô cùng.

Say mê môn Toán, cô tiếp tục nâng cao trình độ môn Toán của mình bằng cách, sau mỗi tuần dạy học tại Hải Phòng, chiều thứ bảy cô lại ra ga đi tàu hỏa lên Hà Nội ( 102 km) để tới nhà các giáo sư Toán trường đại học Tổng hợp để học thêm.

Kiên trì vừa dạy vừa học tập 13 Chuyên đề Toán Kinh tế trong 5 năm, năm 1965, cô được Sở GD Hải Phòng chuyển sang giảng dạy tại Phân hiệu Đại học Bách khoa (Sau trở thành Trường đại học Tại chức Hải Phòng) và được cấp 13 chứng chỉ Toán Kinh tế hạng xuất sắc.

Cô đã đưa toán học vào thực tiễn và đóng góp một số công trình nghiên cứu cho thành phố và nhà nước như:

+ Đưa vận trù học vào công việc vận chuyển hàng hóa ở Cảng Hải Phòng.

+ Tối ưu hóa đường đi thu gom rác hàng ngày của công nhân Công ty vệ sinh.

+ Tối ưu hóa dây chuyền sản xuất ở nhà máy tráng men, nhà máy thủy tinh v.v…

Cũng trong thời gian này, cô vừa chăm sóc mẹ (Vì cha đã mất), vừa hỗ trợ anh chị nuôi dạy các cháu thành tài (Một người cháu đã trở thành học sinh giỏi toán toàn miền Bắc ở cấp phổ thông. Sau này trong 4 người cháu thì có một người có 2 bằng Cử nhân, còn 3 người là Tiến sĩ).

Năm 1983, cô chuyển vào TP.HCM và dạy tại trường đại học Kinh tế TP.HCM môn Toán Thống kê. Tín nhiệm kinh nghiệm dạy Toán của cô, các bạn đồng nghiệp trong trường đại học nhờ cô dạy kèm cho các con cháu của mình. Lớp học của cô ngày càng mở rộng do có chất lượng bồi dưỡng rất cao.

Ngày 25/8/1985, cô quyết định mở các lớp dạy phụ đạo (tiền thân của TTBDVH 218 LTT sau này). Giáo viên bao gồm 4 anh chị em của cô và 7 bạn đồng nghiệp – Gọi là nhóm “ Thất hiền”. Hoạt động chủ yếu ban đầu là dạy cho các con của đồng nghiệp: Những cháu yếu kém nâng lên trung bình, khá; những cháu khá, giỏi nâng lên thành học sinh giỏi, học sinh năng khiếu và kiêm luôn luyện thi đại học… Bên cạnh việc dạy văn hóa, cô còn tổ chức dạy Đức dục để rèn luyện nhân cách cho học sinh.

Năm 1989, cô nghỉ hưu và chuyên tâm lo cho TTBDVH 218 LTT. Trung tâm đã phát triển lên thành 7 phân hiệu với hàng trăm Giáo viên giảng dạy, công nhân viên và nhiều ngàn học sinh.

Năm 2007: Cô nung nấu dự định mở một trường học chính qui. Ròng rã hơn hai năm trời kiếm tìm địa điểm, cô đã chọn địa điểm 39/23 Bùi Văn Ba, Phường Tân Thuận Đông, Quận 7 để mở trường.

Tháng 5/2010, cô được Sở GD&ĐT TP.HCM cho phép mở trường THCS và THPT Đức Trí (Lúc đầu dự kiến đặt tên trường là trường ĐÀM THẬN HUY, sau quyết định lấy chí hướng của Tổ tiên để đặt tên trường là ĐỨC TRÍ).

Ban đầu trường có 10 lớp và 1 cơ sở, số học sinh là 310 em. Đến nay, CS1 đã mở rộng gấp đôi, còn mở thêm CS2 tại số 742/10 Nguyễn Kiệm, Phường 04, Quận Phú Nhuận. Số lượng học sinh cũng nhân lên gấp nhiều lần.

Uy tín về chất lượng giáo dục và giảng dạy của trường THCS và THPT Đức Trí cũng đã bước đầu được khẳng định tại Q7 và Q.Phú Nhuận, TP.HCM.

Từ khi mở trường, ở tuổi 78, Cô Đàm Lê Đức đã dồn tất cả tâm lực cho việc phát triển nhà trường ngày càng lớn mạnh.

Cho đến ngày 06/5/2022, có thể nói cô giáo Đàm Lê Đức đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà cũng như đã đặt tất cả niềm tin, hy vọng vào trường Đức Trí là đứa con tinh thần yêu quí của cô.

Các bạn có thể tìm hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của cô Đàm Lê Đức thông qua cuốn hồi ký: “Yêu đời ta gửi trái tim cho đời”. Bản pdf được đính kèm dưới.

Link hồi ký

Xem thêm